Sau gần một thập niên triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, thực thi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, nhiều cơ hội mới đã hình thành nhưng cũng xuất hiện không ít thách thức về xung đột không gian sử dụng biển, hạn chế trong cơ chế giao biển và yêu cầu chuyển đổi sang mô hình kinh tế biển xanh.
Loạt bài “Phát triển bền vững kinh tế biển” ghi nhận những chuyển động tại các địa phương ven biển, góc nhìn từ chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế nhằm nhận diện cơ hội, thách thức cũng như các “điểm nghẽn” thể chế trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển.
Khi nguồn lợi tự nhiên ngày càng cạn kiệt, đại dương đang mở ra không gian phát triển mới. Với Việt Nam, phát triển canh tác biển và đại dương không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà còn là chiến lược vươn ra biển lớn.
Chia sẻ với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường, PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho biết, trong nhiều thập kỷ qua, ngành khai thác hải sản đã phát triển với cường lực quá cao, gây lạm thác nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế. Nguồn lợi sinh vật biển bị khai thác quá mức, mất khả năng tự tái tạo, ảnh hưởng xấu đến tính cân bằng của hệ sinh thái đại dương.
Trong khi ấy, dân số ngày càng tăng nhanh, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm biển tăng cao, khiến mâu thuẫn cung - cầu về hải sản trên thế giới ngày càng gay gắt. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), đến năm 2030, thế giới cần thêm 19 triệu tấn hải sản so với năm 2015 mới bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng.

Ảnh: Hồng Thắm.
Liên hợp quốc đã xác định thế kỷ XXI là thế kỷ của biển và đại dương, trong đó mục tiêu cao nhất là phát triển mạnh canh tác biển và đại dương - "cánh đồng cuối cùng" của hành tinh.
So với chăn nuôi trên cạn, nuôi biển được đánh giá cao hơn về hiệu quả kinh tế - môi trường, do có năng suất cao hơn, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp hơn (FCR của cá biển sử dụng thức ăn viên chỉ từ 1 - 2,5; trong khi của động vật trên cạn là 4 - 8); đồng thời ít gây tác động tiêu cực đến môi trường.
Theo FAO, với trình độ công nghệ hiện nay, các quốc gia có biển có thể sử dụng 0,1% diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) để nuôi cá biển với năng suất 9.900 - 12.000 tấn cá/km2/năm.
Việt Nam có vùng biển đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km², rộng gấp 3 lần diện tích đất liền (chỉ 327.480 km²). Với cách tính của FAO, mỗi năm Việt Nam có thể nuôi 10 triệu tấn cá biển trên vùng biển 1.000 km2, tức là 0,1% diện tích EEZ, cung cấp nguồn nguyên liệu hải sản khổng lồ, chất lượng cao cho các nhà máy chế biến, có thể tạo ra giá trị khoảng 50 tỷ USD mỗi năm.
Ngoài cá, Việt Nam còn có thể phát triển nuôi hàng triệu tấn động vật thân mềm không cần dùng thức ăn và trồng xen rong biển, đạt năng suất đạm 400 kg protein/ha/năm (so với trồng cây trên đất chỉ thu được 16 kg/ha/năm) mà không cần tốn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước ngọt, lại có khả năng hấp thu các tác nhân gây ô nhiễm trong khí quyển và đại dương.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng nhấn mạnh: “Nội hàm của nuôi biển rất rộng, không chỉ nuôi và trồng các loại hải sản đa dạng trên mặt nước, trong các tầng nước, trên và trong nền đáy biển, mà còn gồm bảo tồn đa dạng sinh học, tôn tạo các hệ sinh thái, gìn giữ môi trường biển, làm giàu các nguồn lợi sinh vật biển, cải thiện sinh kế và nâng cao đời sống cho người dân vùng biển, phát triển văn hóa biển tiên tiến, xã hội biển văn minh...".
Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP về Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Theo đó, 12 bộ và 21 địa phương ven biển được giao triển khai 51 nhiệm vụ, dự án; trong đó Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì 12 nhiệm vụ.

Liên hiệp quốc đã xác định thế kỷ XXI là thế kỷ của biển và đại dương, trong đó mục tiêu cao nhất là phát triển mạnh canh tác biển và đại dương - "cánh đồng cuối cùng" của hành tinh. Ảnh: Hồng Thắm.
Việc triển khai Nghị quyết số 26/NQ-CP đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Công tác quản trị biển và đại dương có bước tiến rõ rệt, đặc biệt là việc lần đầu tiên lập và phê duyệt quy hoạch không gian biển quốc gia. Hệ thống pháp luật về lấn biển, giao khu vực biển ngày càng hoàn thiện; bộ chỉ tiêu thống kê và bộ chỉ tiêu đánh giá quốc gia biển mạnh cũng đã được ban hành.
Kinh tế biển và ven biển tăng trưởng nhanh, đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều lĩnh vực quan trọng như dịch vụ hàng hải, logistics, cảng biển, đóng tàu, khai thác dầu khí, nuôi biển và du lịch biển... đều có bước phát triển mạnh mẽ. Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng được đầu tư đồng bộ hơn, tạo động lực hình thành các trung tâm logistics, công nghiệp ven biển.
Bên cạnh đó, năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới đang nổi lên như những động lực thúc đẩy kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đời sống người dân vùng biển tiếp tục được cải thiện, đặc biệt trong tiếp cận điện, nước sạch và hạ tầng thiết yếu.
Công tác bảo vệ môi trường biển được tăng cường, nhiều hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo được phục hồi; bản đồ hải đồ, địa hình đáy biển đã được hoàn thành ở phần lớn diện tích vùng biển. Đến nay cả nước có 12 khu bảo tồn biển được thành lập với diện tích hơn 206.000 ha, trong đó có 185.000 ha biển; cơ bản hoàn thành bản đồ hải lý tỷ lệ 1:200.000 cho 82% diện tích vùng biển…
Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ biển, hợp tác quốc tế với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Canada và nhiều tổ chức quốc tế được mở rộng; các luận cứ khoa học về hệ sinh thái, địa chất biển, thiên tai và biến đổi khí hậu từng bước được làm rõ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là thiếu cơ chế đột phá để thu hút nguồn lực tư nhân. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo. Kinh tế biển phát triển chưa đồng bộ; logistics và kinh tế cảng biển chậm đổi mới; ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ven biển vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đến nay một số chỉ tiêu quan trọng về kinh tế biển vẫn chưa có hướng dẫn, tiêu chí đánh giá như: Phương pháp xác định các ngành kinh tế thuần biển và các ngành kinh tế liên quan đến biển; số lượng và tỷ lệ các đảo có người dân sinh sống có hạ tầng kinh tế - xã hội; số lượng cán bộ được đào tạo để phát triển nguồn nhân lực biển...
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng nhấn mạnh: “Quy mô kinh tế biển còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế địa kinh tế”. Cơ cấu ngành, nghề chưa hợp lý; mới tận dụng, khai thác hiệu quả được một phần vùng biển quốc gia, chưa có đủ điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế. Phương thức khai thác chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ.
Hệ thống giao thông đường bộ ven biển chưa đáp ứng yêu cầu, hạ tầng kỹ thuật biển còn yếu, chưa đồng bộ; chưa có nhiều cảng biển lớn tầm cỡ khu vực, năng lực vận tải biển còn thấp, số lượng cảng tàu khách còn ít. Các hệ sinh thái biển quan trọng ở các khu bảo tồn đang bị suy thoái, thu hẹp; đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy sản giảm sút, thiếu bền vững.
Khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực biển chưa thực sự là những nhân tố then chốt để phát triển bền vững kinh tế biển, chưa được quan tâm đúng mức, đầu tư chưa thích đáng. Các công trình nghiên cứu có chất lượng cao còn ít. Hệ thống, năng lực của các cơ sở nghiên cứu, đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ biển, phương tiện và trang thiết bị khảo sát còn khiêm tốn, trình độ hạn chế so với các nước phát triển trên thế giới. Chất lượng nghiên cứu chưa đồng đều và hiệu quả ứng dụng chưa cao.
Sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo còn mang tính hình thức, chưa hình thành được thói quen của người dân trong bảo vệ môi trường. Các mô hình cộng đồng quản lý môi trường biển và hải đảo còn ít, hiệu quả thấp. Công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trong du lịch chưa đồng bộ.
Ngoài ra, hoạt động lấn biển chưa được đánh giá tổng thể, nguy cơ ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sự ổn định đường bờ; quan trắc môi trường biển còn mỏng; điều tra cơ bản biển, nhất là vùng biển sâu còn hạn chế do thiếu phương tiện, thiết bị chuyên dụng.
Đại diện Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng đề xuất cần đẩy nhanh và tạo thuận lợi hơn trong việc giao các khu vực biển cụ thể cho tổ chức, người dân sử dụng cho nuôi biển theo Nghị định 11/2021/NĐ-CP, đã được sửa đổi theo Nghị định 65/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ.
Một là, cần xem xét bãi bỏ thủ tục báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các hoạt động nuôi biển ít có tác động xấu đến môi trường, không tạo ra chất thải có hại, không sử dụng thức ăn, chẳng hạn như nuôi các loài nhuyễn thể, động vật đáy, trồng rong; chỉ yêu cầu chủ đầu tư cam kết bảo vệ môi trường, thay vì phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Cần xem xét lại mức phí và cách tính phí sử dụng khu vực biển giao cho hợp tác xã, doanh nghiệp nuôi thủy sản, bảo đảm hợp lý, thực tế, hài hòa lợi ích giữa nhà nước và ngư dân. Ảnh: Hồng Thắm.
Hai là, kiến nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định về cấp “sổ xanh” xác nhận quyền sử dụng khu vực biển lâu dài cho các tổ chức nuôi biển, tương tự như “sổ đỏ” đối với đất. Cơ chế này nhằm xác lập quyền tài sản đối với quyền sử dụng khu vực biển được giao để nuôi hải sản. Đồng thời, ban hành Nghị định về việc định giá các tài sản đã đầu tư nuôi biển để các đơn vị trực tiếp có thể mua bảo hiểm, vay vốn ngân hàng, đấu giá, chuyển nhượng hay thừa kế.
Ba là, xem xét lại mức phí và cách tính phí sử dụng khu vực biển giao cho hợp tác xã, doanh nghiệp nuôi thủy sản, bảo đảm hợp lý, thực tế, hài hòa lợi ích giữa nhà nước và ngư dân.
Theo đó, phí sử dụng khu vực biển phải không được cao hơn phí sử dụng đất; thậm chí phải thấp hơn đáng kể, do nuôi biển có mức độ rủi ro cao, mức cung ứng hạ tầng thấp, suất đầu tư cao hơn nhiều. Chỉ tính phí đối với phần diện tích thực tế được sử dụng để nuôi biển chứ không phải toàn bộ diện tích được giao
Cần quy định những mức phí khác nhau cho các vùng nuôi có điều kiện khác nhau và đối tượng nuôi khác nhau. Miễn phí một số năm đầu (ít nhất 3-5 năm), kể từ lúc giao khu vực biển. Áp dụng việc giao khu vực biển để nuôi trồng hải sản không thu phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Thủy sản 2017.
Bốn là, ưu tiên giao biển cho các hợp tác xã và doanh nghiệp - hai thành phần kinh tế trọng yếu và là chủ thể tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi từ nuôi biển thủ công truyền thống sang nuôi biển thương mại bền vững.
Năm là, ban hành quy định về các điều kiện kỹ thuật cần thiết của các pháp nhân kinh tế để được giao quyền sử dụng khu vực biển lâu dài, bao gồm các điều kiện về tổ chức, đề án sản xuất kinh doanh, nhân lực và tài lực; ban hành quy chế xử lý vi phạm, từ nhắc nhở, cảnh cáo đến thu hồi quyền sử dụng khu vực biển đối với các pháp nhân vi phạm quy định bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển hoặc các quy định khác.
Khi những cánh đồng trên đất liền dần trở nên chật hẹp bởi áp lực dân số, biến đổi khí hậu và suy giảm tài nguyên, đại dương đang mở ra cho Việt Nam một không gian phát triển mới - rộng lớn, xanh và giàu tiềm năng hơn bao giờ hết. Nhưng để biến “cánh đồng cuối cùng” của hành tinh thành động lực tăng trưởng bền vững, không thể chỉ dựa vào khai thác tự nhiên, mà cần một tư duy biển hiện đại: Nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao, hài hòa giữa kinh tế và sinh thái.
Từ ngày 4-6/6/2026 tại phường Cửa Lò (Nghệ An), Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Chuỗi sự kiện truyền thông hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới (05/6), Ngày Đại dương thế giới (08/6), Tháng hành động vì môi trường và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026.
1. Diễn đàn Quốc gia về Môi trường và Khí hậu - Từ chính sách đến hành động
- Thời gian: 8h00 ngày 5/6/2026
- Địa điểm: Vinpearl Cửa Hội, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Tham dự trực tuyến: ID: 942 6837 3034. Mật mã: KH0605.
2. Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”
- Thời gian: 14h00 ngày 5/6/2026
- Địa điểm: Vinpearl Cửa Hội, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Tham dự trực tuyến: ID: 934 2999 5099. Mật mã: HT0506.
3. Chương trình nghệ thuật “Biển Việt Nam - Hành trình không gian xanh”
- Thời gian: 20h00 ngày 5/6/2026
- Địa điểm: Quảng trường Bình Minh, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
4. Lễ Phát động Quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới, Ngày Đại dương thế giới, Tháng hành động vì môi trường và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026; Phát động phong trào “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh - sạch - đẹp”
- Thời gian: 6h00 ngày 6/6/2026
- Địa điểm: Quảng trường Bình Minh, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
5. Triển lãm Kinh tế Biển xanh - Nông nghiệp và Môi trường bền vững
- Thời gian: Từ ngày 4-6/6/2026
- Địa điểm: Quảng trường Bình Minh, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường, tác giả Hồng Thắm, đăng ngày 23/5/2026
Link bài viết: https://nongnghiepmoitruong.vn/phat-trien-ben-vung-kinh-te-bien-vuon-ra-dai-duong--canh-dong-cuoi-cung-cua-hanh-tinh-d812144.html