Trang thông tin điện tử Sở Nông nghiệp và Môi trường Ninh Bình

ĐOÀN KẾT - DÂN CHỦ - KỶ CƯƠNG - ĐỘT PHÁ - PHÁT TRIỂN!

Chung nhan Tin Nhiem Mang

ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ VIỆT NAM QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Thứ bảy, 13/12/2025
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 20 điểm ( 4 đánh giá )

Từ thời thượng cổ, con người đã biết thể hiện bề mặt trái đất lên mặt phẳng thông qua những nét vẽ tượng trưng làm tài liệu mô tả nơi cư trú và đường đi, lối lại tới các địa điểm mưu sinh thuộc phạm vi lãnh thổ của họ, tài liệu đó được gọi chung là Bản đồ. Xã hội loài người càng phát triển, thì Bản đồ càng được thể hiện chính xác, vai trò của Bản đồ trong cuộc sống ngày càng trở nên quan trọng hơn, yêu cầu về độ chính xác thể hiện nội dung trên Bản đồ ngày càng cao hơn. Từ nhu cầu của cuộc sống, môn khoa học Trắc địa và Bản đồ đã được hình thành (còn gọi là Đo đạc và Bản đồ).

Nhiệm vụ khoa học của Trắc địa và Bản đồ là nghiên cứu để xác định các yếu tố hình học, sự biến dạng hình học của trái đất và thể hiện những thông tin trên bề mặt trái đất lên mô hình. Nhiệm vụ kỹ thuật của Trắc địa và Bản đồ là hình thành các giải pháp công nghệ, thiết bị nhằm mục đích định vị, đo đạc các yếu tố hình học, thiết lập mô hình, liên hệ giữa mặt đất thực với mô hình, đưa thiết kế từ mô hình ra thực địa. Hai nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật của Trắc địa và Bản đồ luôn thống nhất với nhau và hỗ trợ cho nhau. Khi phạm vi quan tâm của con người càng rộng, thì nhiệm vụ khoa học của Trắc địa và Bản đồ càng lớn. Trước đây, người ta chỉ quan tâm đến một không gian hẹp xung quanh, thì người ta có thể coi mặt đất là phẳng. Sau đó, người ta mở rộng tầm mắt tới cả nước, cả khu vực, cả lục địa và tới toàn cầu, thì trái đất được coi là hình cầu, hình ê-líp-xô-ít tròn xoay, hình ê-líp-xô-ít 3 trục. Đến nay, khi con người đã bước vào vũ trụ, thì nhiệm vụ khoa học của Trắc địa và Bản đồ cũng mở rộng đến các hành tinh khác, các hệ sao khác và các thiên hà khác. Nhiệm vụ khoa học càng rộng, thì phương pháp công nghệ để đáp ứng cho nhiệm vụ đó càng có cơ hội phát triển. Phương pháp trắc địa vũ trụ đã hình thành và phát triển để đáp ứng nhiệm vụ khoa học của Trắc địa và Bản đồ cho vũ trụ, đồng thời đó cũng là cuộc cách mạng công nghệ cho Trắc địa và Bản đồ phục vụ bề mặt trái đất. Kết quả của Đo đạc và Bản đồ là thông tin. Đó là thông tin về trái đất, thông tin về bề mặt đất, thông tin về vũ trụ mà con người quan tâm, đồng thời đó là cơ sở để thể hiện các thông tin khác gắn với mặt đất.

Trên cơ sở các phương pháp định vị để xác định tọa độ và độ cao, các đối tượng và hiện tượng trên bề mặt trái đất được đo đạc, xác định và thể hiện, trình bày thành Bản đồ (một dạng của mô hình bề mặt đất) bằng một hệ thống ký hiệu quy ước để phục vụ người sử dụng. Bản đồ là mô hình trên mặt phẳng thể hiện bề mặt đất khá phức tạp với rất nhiều thông tin đa dạng. Nhà Bản đồ học cần phải thể hiện những thông tin trên bề mặt đất lên Bản đồ theo mục tiêu mà Bản đồ đó phục vụ bằng một loại ngôn ngữ riêng có liên quan đến đồ họa. Từ khi công nghệ thông tin phát triển, người ta tìm giải pháp thay thế Bản đồ truyền thống trên giấy bằng mô hình khác của bề mặt trái đất lên máy tính. Đó chính là hệ thống thông tin địa lý với khả năng thể hiện phong phú hơn, đa dạng hơn.

Sự ra đời của kỹ thuật chụp ảnh nửa cuối thế kỷ XIX đã tạo ra một công cụ hữu hiệu cho khoa học Trắc địa và Bản đồ là bộ môn Trắc địa ảnh. Những tấm ảnh chụp từ máy bay và nhiều năm trở lại đây là cả từ vệ tinh, với độ phân giải thấp, trung bình, cao và siêu cao cung cấp cho con người hình ảnh mặt đất, hoặc khái quát cả một vùng rộng lớn hoặc chi tiết cụ thể đến từng mét. Nhờ đó, có thể khám phá cận cảnh hoặc từ xa các chi tiết cần thiết, tăng cường độ chính xác nghiên cứu các đối tượng, hiện tượng mặt đất và đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng và độ chính xác của Bản đồ.

Từ những năm 50 của thế kỷ XX, kỹ thuật chụp và phân tích ảnh đa phổ được đưa vào ứng dụng, công nghệ Viễn thám từ đó đã ra đời. Xuất phát từ nguyên lý vật thể có cấu trúc vật chất khác nhau sẽ phản ứng có chọn lọc đối với các phổ sóng điện từ khác nhau, công nghệ Viễn thám nghiên cứu các phương pháp thu và xử lý ảnh đa phổ để xác định tính chất các đối tượng mặt đất, tạo ra rất nhiều khả năng ứng dụng mới cho Đo đạc và Bản đồ.

Những năm 90 của thế kỷ XX, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ vệ tinh đã tạo ra bước ngoặt cơ bản cho phát triển Trắc địa và Bản đồ. Việc áp dụng công nghệ số vào Trắc địa và Bản đồ đã cho phép đổi mới toàn diện công nghệ Trắc địa và Bản đồ từ phương pháp luận tới loại hình sản phẩm, đang thay thế hầu như toàn bộ công nghệ Trắc địa và Bản đồ truyền thống. Công nghệ định vị vệ tinh (GPS) và công nghệ chụp ảnh vệ tinh (RS) đã trở thành công cụ chủ yếu để thu nhận thông tin trên bề mặt trái đất. Thông tin Trắc địa và Bản đồ được thay thế bằng thông tin địa lý, một lớp thông tin quan trọng của hạ tầng thông tin phục vụ xã hội. Thông tin địa lý được quản lý, xử lý, khai thác, kết xuất trong hệ thống thông tin địa lý (GIS), ngày càng trở thành công cụ phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tất cả thông tin được phân lớp, thể hiện theo nhiều chiều, thể hiện bằng tín hiệu số, đó là những đặc điểm mà Bản đồ truyền thống không thể nào có được. Dữ liệu địa lý có thể trao đổi qua mạng, dễ dàng cập nhật, cung cấp nhanh chóng, thuận tiện cho người sử dụng. Công nghệ 3S gồm GPS, RS, GIS đã và đang trở thành công cụ rất hữu hiệu trong Trắc địa và Bản đồ để nghiên cứu điều kiện tài nguyên, môi trường và giải quyết nhiều vấn đề của đời sống xã hội.

Thông tin Trắc địa và Bản đồ được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Trong thực tế cuộc sống, hầu như không có lĩnh vực nào của đời sống xã hội không sử dụng đến Bản đồ, từ quản lý nhà nước đến quản lý kinh tế, từ phát triển kinh tế - xã hội tới bảo đảm quốc phòng - an ninh, từ nghiên cứu khoa học tới nâng cao dân trí. Việc điều tra và quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đánh giá và giám sát môi trường, phòng chống thiên tai, quy hoạch phát triển, quản lý lãnh thổ, dự báo phát triển kinh tế đều được thực hiện trên cơ sở hệ thống thông tin địa lý.

Công tác Đo đạc và Bản đồ ở Việt Nam có một truyền thống lâu đời. Cùng với thời gian và những thăng trầm của lịch sử đất nước, công tác Đo đạc và Bản đồ đã để lại nhiều dấu ấn và thành quả quan trọng của mình. Bản đồ Việt Nam đã được sử dụng như một công cụ để quản lý đất nước từ năm 1490 thời Hồng Đức nhà Lê. Lúc đó, với mục đích quản lý lãnh thổ, vua Lê Thánh Tông đã cho thành lập Bản đồ cả nước và các thừa tuyên (đơn vị hành chính lúc đó), về sau được gọi là “Hồng Đức bản đồ”, nay chúng ta quen gọi là Tập bản đồ Hồng Đức và coi đó là Tập bản đồ Quốc gia đầu tiên của nước ta. “Hồng Đức bản đồ” có thể được coi như Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước ta bằng ngôn ngữ bản đồ, là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của lĩnh vực đo đạc và bản đồ nước ta.

An Nam quốc đồ thời Hồng Đức (1490)

Năm 1834, vua Minh Mạng nhà Nguyễn đã cho công bố tấm bản đồ cả nước mang tên “Đại Nam nhất thống toàn đồ”, là tấm bản đồ đầu tiên thể hiện chi tiết về vị trí, cương vực và hình thể đất nước ta.

Ngay từ khi mới đặt chân đến xâm lước Việt Nam, chính quyền Pháp đã tiến hành khảo sát để lập ra các Bản đồ phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa. Năm 1887, Pháp chiếm được 03 nước Việt Nam, Lào, Căm phu chia và hình thành ra Đông Dương thuộc địa. Năm 1899, Nha địa dư Đông Dương được thành lập có trụ sở chính tại Hà Nội. Trong thời gian Thế chiến thứ hai, Nha địa dư Đông Dương được chuyển vào Đà Lạt. Năm 1955, Nha địa dư Đông Dương mới được chia tách thành 03 cơ quan địa dư riêng của Việt Nam, Lào và Căm phu chia.

An Nam đại quốc họa đồ do giám mục Jean-Louis Taberd xuất bản năm 1838. (Ảnh: https://gallica.bnf.fr)

Công tác trắc địa và bản đồ thời Pháp thuộc bắt đầu bằng việc đo đạc xây dựng mạng lưới điểm tọa độ cơ sở gồm 06 điểm thiên văn, 08 đường đáy, khoảng 300 điểm tam giác hạng I tạo thành các chuỗi tam giác đo góc phủ trùm Đông Dương (với thời gian gần 50 năm từ 1889-1936) và các điểm tọa độ hạng II được xây dựng bằng phương pháp giao hội đo góc. Bên cạnh việc xây dựng lưới điểm tọa độ, Nha địa dư Đông Dương đã tiến hành xây dựng lưới điểm độ cao và bay chụp ảnh máy bay toàn Đông Dương. Hệ thống bản đồ địa hình cơ bản được thành lập ở tỷ lệ cơ bản 1:100.000 và tổng hợp lên tỷ lệ 1:500.000, ở một số khu vực cần thiết có bản đồ tỷ lệ 1:25.000 và lớn hơn. Các tư liệu trắc địa và bản đồ được thành lập trên ê-líp-xô-ít Clarke 1880 và chiếu về mặt phẳng theo lưới chiếu Bonne.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Ngay sau khi vừa giành được độc lập, Đảng ta đã chú trọng đến công tác Trắc địa và Bản đồ. Ngày 25/9/1945, Phòng Đồ bản thuộc Bộ Tổng Tham mưu - Cơ quan Bản đồ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Trong 09 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, một mặt lợi dụng các tài liệu Bản đồ của Pháp, mặt khác đã tự tiến hành đo đạc lập Bản đồ để phục vụ chiến đấu. Lúc đầu, bộ đội ta làm Bản đồ bằng những phương pháp thủ công, đơn giản. Từ chỗ vẽ bằng bút sắt, bút lông, can vẽ, phơi lam, đến cuối năm 1948, bộ đội ta đã đóng được thiết bị in bản kẽm bằng gỗ để in ra các Bản đồ. Đến năm 1949, bộ đội ta đã tiến hành đo đạc, hiện chỉnh Bản đồ của Pháp, tự đào tạo thợ vẽ Bản đồ, thợ in Bản đồ phục vụ cuộc kháng chiến. Phòng Đồ bản đã đảm nhận mọi nhiệm vụ về Đo đạc và Bản đồ phục vụ mục đích quân sự, đã góp phần quan trọng cho thắng lợi của dân tộc trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, hòa bình lập lại sau 9 năm kháng chiến gian khổ, đất nước bị chia cắt thành hai miền. Công tác Đo đạc và Bản đồ phải chuẩn bị để đảm bảo phục vụ công cuộc phát triển kinh tế ở miền Bắc và chiến đấu giải phóng miền Nam.

Sau khi kết thúc kế hoạch 03 năm hàn gắn vết thương chiến tranh. Thực hiện Nghị quyết ngày 16/9/1959 của Hội nghị Thường vụ Hội đồng Chính phủ, ngày 14/12/1959, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký ban hành Nghị định số 444-TTg về việc thành lập Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Thủ tướng phủ với nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc đo đạc trong toàn quốc; thống nhất chỉ đạo về công tác Đo đạc trong toàn quốc; xuất bản và quản lý các loại Bản đồ; nghiên cứu về môn khoa học Đo đạc và Bản đồ.

Từ thời điểm đó, Cơ quan Đo đạc và Bản đồ Quốc gia của Nhà nước cách mạng Việt Nam ta được chính thức hình thành.

Năm 1974, Hội đồng Chính phủ đã quyết định chuyển Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng thành Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước trực thuộc Hội đồng Chính phủ.

Năm 1994, Chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục Địa chính trên cơ sở hợp nhất và tổ chức lại Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước và Tổng cục Quản lý Ruộng đất. Trong thời gian này, Vụ Đo đạc và Bản đồ là cơ quan tham mưu giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về Đo đạc và Bản đồ. Lúc đó, công tác Đo đạc và Bản đồ được triển khai với hai trọng tâm, một là tiếp tục thực hiện nhiệm vụ Đo đạc và Bản đồ cơ bản, hai là tổ chức thực hiện nhiệm vụ Đo đạc và Bản đồ địa chính.

Tháng 11 năm 2002, Quốc hội đã quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường với chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức được quy định tại Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002. Từ thời điểm này, Cục Đo đạc và Bản đồ (05/8/2002-25/3/2008), Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam (25/3/2008-15/5/2017), Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam (16/5/2017-01/3/2025) trực thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường. Từ ngày 01/3/2025, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Với chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất quản lý Nhà nước về Đo đạc và Bản đồ; quản lý hoạt động Đo đạc và Bản đồ cơ bản; tổ chức triển khai công tác Đo đạc và Bản đồ cơ bản trên đất liền, vùng trời, vùng biển thuộc quyền quản lý và tài phán của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục Đo đạc và Bản đồ có nhiệm vụ triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học về Trắc địa và Bản đồ, thực hiện công tác Đo đạc và Bản đồ cơ bản.

Cùng với Trung ương, các địa phương cũng hình thành bộ máy quản lý và thực hiện công tác Đo đạc và Bản đồ của địa phương mình. Cơ quan quản lý và thực hiện hoạt động Đo đạc và Bản đồ ở địa phương chỉ được thành lập ở cấp tỉnh. Ban đầu, cơ quan quản lý là Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật, cơ quan thực hiện là các Đoàn, Đội Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Ban hoặc Chi cục Quản lý ruộng đất thuộc Ty Nông nghiệp tỉnh; rồi đến Phòng Đo đạc và Bản đồ, Đội Đo đạc và Bản đồ thuộc Sở Địa chính thời kỳ 1994-2003; từ năm 2003 đến nay, một số địa phương sát nhập Phòng Đo đạc và Bản đồ với Phòng Đăng ký Thống kê đất đai thành Phòng Nghiệp vụ hoặc Phòng Đăng ký Đất đai hay Phòng Đo đạc – Bản đồ và Viễn thám; Đội Đo đạc và Bản đồ được đổi tên thành Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường hoặc Trung tâm Đo đạc và Bản đồ hay Công ty công ích Địa chính; …

Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu về công tác Đo đạc và Bản đồ cơ bản cũng như Đo đạc và Bản đồ chuyên ngành ngày càng cao. Một số Bộ, ngành đã có các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ Đo đạc và Bản đồ phục vụ cho phạm vi quản lý của mình. Tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều có các đơn vị sự nghiệp để triển khai công tác Đo đạc và Bản đồ địa chính cho địa phương. Công tác Đo đạc và Bản đồ chuyên ngành đã bắt đầu được xã hội hóa, nhiều Công ty TNHH được thành lập để thực hiện công tác Đo đạc và Bản đồ chuyên ngành nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội.

Hội Trắc địa - Bản đồ - Viễn thám Việt Nam, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của những người làm công tác Đo đạc và Bản đồ được thành lập vào ngày 20/12/1989. Những hoạt động của Hội đã đóng góp tích cực cho sự hợp tác của những người làm công tác Đo đạc và Bản đồ trong nước và quốc tế, đóng góp ý kiến tốt cho các dự án lớn về Đo đạc và Bản đồ của Nhà nước.

Để ghi nhận những đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 20/9/2004, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 991/QĐ-TTg về việc lấy ngày 14 tháng 12 hàng năm là “Ngày truyền thống ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam”.

Đến nay, ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đã có 66 năm xây dựng và phát triển, bao gồm một lực lượng rất lớn những người làm công tác Đo đạc và Bản đồ trong các cơ quan, tổ chức của Nhà nước từ Trung ương tới địa phương, các doanh nghiệp và cá nhân hoạt động nghề nghiệp Đo đạc và Bản đồ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Sau sáp nhập, tỉnh Ninh Bình có 129 đơn vị hành chính xã, phường và 03 khu vực bãi bồi (thuộc huyện Kim Sơn, huyện Nghĩa Hưng và huyện Giao Thủy cũ). Về Bản đồ địa chính, có 58/129 xã, phường hệ thống bản đồ địa chính đã được đo đạc chính quy theo hệ tọa độ VN 2000 đồng bộ theo đơn vị hành chính xã mới sau sáp nhập; 56/129 xã, phường sau sáp nhập hệ thống bản đồ địa chính chưa đồng bộ (bao gồm các loại bản đồ theo hệ tọa độ VN 2000, theo Chỉ thị 299/TTg ngày 19/11/1980 tương đương 101 xã cũ trước sáp nhập); 15/129 xã, phường hiện vẫn còn đang sử dụng hệ thống bản đồ được số hóa từ bản đồ giấy được thành lập từ trước năm 1996 theo hệ toạ độ HN-72 (của 95 đơn vị hành chính xã cũ trước sáp nhập) và 03 khu vực bãi bồi đã được đo đạc chính quy một phần. Về Cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý có 429 mảnh Bản đồ địa chình (296 mảnh tỷ lệ 1:2.000 và 133 mảnh tỷ lệ 1:10.000); 939 mảnh Mô hình số độ cao DTM (935 mảnh tỷ lệ 1:2.000 và 04 mảnh tỷ lệ 1:50.000); … Ngoài ra còn có hệ thống Bản đồ địa giới hành chính, Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, Bản đồ quy hoạch sử dụng đất, … Có được những kết quả trên, có sự đóng góp công sức to lớn của những thế hệ làm công tác Đo đạc và Bản đồ, trong đó có người đã trở về với lòng đất mẹ, có người đã nghỉ hưu hoặc đã chuyển ngành.

Về tổ chức, bộ máy làm công tác Đo đạc và Bản đồ của tỉnh, hiện nay Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động Đo đạc và Bản đồ trên địa bàn tỉnh, giúp Giám đốc Sở có Phòng Đo đạc – Bản đồ và Viễn thám là đơn vị quản lý Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn có Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký đất đai. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các đơn vị tư vấn tham gia hoạt động Đo đạc – Bản đồ như Công ty cổ phần Tài nguyên và Môi trường 6 thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Công ty TNHH Trường Sinh, Công ty TNHH Hồng Linh, ... Về biên chế, hiện nay Sở Nông nghiệp và Môi trường Ninh Bình có hàng trăm người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ Đo đạc – Bản đồ, trong đó có nhiều người là Thạc sỹ Trắc địa, Kỹ sư chuyên ngành Trắc địa, Bản đồ và rất nhiều người có trình độ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp ở một số lĩnh vực có liên quan đang tham gia hoạt động Đo đạc và Bản đồ phục vụ quản lý chuyên ngành của Sở. Riêng Văn phòng Đăng ký đất đai Ninh Bình, số người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chuyên ngành Trắc địa – Bản đồ chiếm khoảng 10% (của tổng số 245 người), nhưng hàng năm đã trích đo địa chính hàng chục nghìn thửa đất; trích lục hàng nghìn thửa đất phục vụ công tác đăng ký biến động đất đai, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận và thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và đã cập nhật, chỉnh lý biến động hàng trăm nghìn thửa đất lên Bản đồ địa chính, Cơ sở dữ liệu đất đai.

Những kết quả nêu trên thì chỉ có vài dòng như thế, nhưng để làm được nó thì những người làm công tác Đo đạc và Bản đồ phải đổ bao mồ hôi, thậm trí cả máu và nước mắt mới có được. Đúng như một đồng nghiệp của chúng ta đã từng nói: “Cầm tấm bản đồ địa chính trên tay/Đơn giản thế sao mà gian khổ thế”.

Mặc dù vậy, trong tương lai gần, trách nhiệm trước mắt của những người làm công tác Đo đạc và Bản đồ tỉnh Ninh Bình vẫn còn nặng nề, đó là còn 71/129 xã, phường chưa có Bản đồ địa chính chính quy dạng số hoặc chưa đồng bộ sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, rồi các nhiệm vụ Đo đạc – Bản đồ phục vụ các mục đích phát triển kinh tế - xã hội địa phương đang đặt lên vai những người làm công tác Đo đạc và Bản đồ, đòi hỏi mỗi người chúng ta phải ra sức cố gắng tu dưỡng về mọi mặt để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.

Nhân dịp kỷ niệm 66 năm Ngày truyền thống Ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, xin chân thành gửi tới các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đã và đang công tác trong Ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam tình cảm chân thành và lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Đồng thời, tôi xin thay mặt những người làm công tác Đo đạc và Bản đồ thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình xin gửi đến người thân của các đồng chí tình cảm tri ân và lòng biết ơn trân trọng nhất, bởi vì họ đã thay chúng tôi chăm lo gia đình để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ./.

Nguyễn Trường Tuấn – Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai Ninh Bình

Bài viết khác
Văn bản mới